Thứ Tư, 13 tháng 11, 2013

Thơ Đường nhân chuyến thăm Cố đô


Thơ Đường nhân chuyến thăm Cố Đô

 

           Đặng Văn Sinh



   渡大

                              

 




              , ,



Phiên âm:



Độ Đại Linh giang(1)



                        Đặng Văn Sinh                      



Thử địa tiền triều tằng huyết chiến

Qua mâu ảnh chiếu ảm sầu vân

Chí kim khách đáo Linh Giang thượng

Vãng sự, hồi đầu ức cổ nhân.

                       

                  Đại Linh giang, thu nguyệt, Bính Tuất niên       

 

Dịch nghĩa:



Qua sông Gianh



Đất này triều trước đã từng là nơi huyết chiến

Ánh giáo gươm chiếu lên làm tối đám mây buồn

Đến nay khách viếng thăm sông Gianh

Ngoảnh đầu nghĩ đến chuyện cũ, nhớ người xưa.



                      Sông Gianh, mùa thu, năm Bính Tuất



Dịch thơ:



Qua sông Gianh 

                          

Nơi đây huyết chiến ngày xưa

Giáo gươm lóe chớp rơi mưa mây sầu

Sông Gianh khách đến bấy lâu

Người qua chuyện cũ ngoảnh đầu lệ rơi.



                               Nguyễn Đào Trường



Đất này huyết chiến nghiêng triều trước

Gươm giáo ánh mây cũng sẫm mờ

Khách đến sông Gianh, trên sóng dội

Ngoảnh đầu nghĩ lại, nhớ người xưa.



     Duy Phi

                       


   

                    



亡魂 ?

" ".

                   , , , 七日



Phiên âm:



Cổ thành Quảng Trị

                              Đặng Văn Sinh



Quảng Trị hoang thành tuyệt giá cô(2)

Phong xuy cựu trủng chiểm vi lô

Thùy tri tử sĩ vong hồn hận?

"Nhất tướng công thành vạn cốt khô".



                 Quảng Trị, Bính Tuất niên, trọng thu, sơ thất nhật



Dịch nghĩa:



       Thành cổ Quảng Trị



Thành hoang Quảng Trị đã hết loài chim đa đa

(Chỉ có) gió thổi làm lung lay đám lau sậy trên những ngôi mộ cũ

Nào ai biết vong hồn tử sĩ còn vương hận?

Một tướng làm nên chiến công phải đổi bằng vạn sinh mạng.



                    Quảng Trị, ngày mồng 7, tháng 9, năm Bính Tuất



Dịch thơ:



Thành Cổ Quảng Trị  

                  

Lau sậy hoang thành lạnh gió xô

Lung lay mộ cũ chiến trường xưa

Nào ai tử sỹ vong hồn hận

"Nhất tướng công thành vạn cốt khô".



                                     Nguyễn Đào Trường

                       

Quảng Trị thành hoang hết giá cô

Gió ru mộ cũ đám lau thưa

Ai hay tử sĩ hồn vương hận

Một tướng nên công vạn nấm mồ!



                                   Duy Phi


                 鄧文生




滿

                 , , ,



Phiên âm:



Hương giang tức sự

Đặng Văn Sinh

             

Thủy thượng du thuyền (3) dật nguyệt cầm

Hương giang kỷ độ nhật phù trầm

Thi nhân, tài nữ sầu tương biệt

Nhất khúc Nam Bình (4) lệ mãn khâm.



                 Thuận Hóa, Bính Tuất niên, trọng thu, cát nhật

 

Dịch nghĩa :



Hương giang tức sự



Trên mặt nước, du thuyền đầy tràn tiếng đàn nguyệt

Đã bao lần mặt trời chìm nổi trên Hương giang

Thi nhân, tài nữ lưu luyến từ biệt nhau

Một khúc hát Nam Bình, nước mắt thấm ướt vạt áo.

                    Huế, ngày lành, tháng chín, năm Bính Tuất



Dịch thơ:

Hương giang tức sự

                      

Mặt nước thuyền đi tiếng nguyệt tràn

Mây trời chìm nổi bến Hương Giang

Thi nhân tài nữ lưu từ biệt

Khúc hát Nam Bình lệ mãi loang.

                            Nguyễn Đào Trường

                                   

Du thuyền đàn nguyệt sóng êm

Mặt trời Hương Thuỷ mấy phen lạc loài

Thi nhân, tài nữ luyến hoài

Nam Bình một khúc, áo ai lệ đầy... 



                            Duy Phi



Sóng sánh Hương Giang nước lẫn trời

Nguyệt cầm thả nhịp ánh trăng phơi

Thuyền dừng, chủ khách buồn ly biệt

Một khúc Nam Bình lệ mãi rơi.



                                Tác giả tự dịch

                                   

樹陵 感作

                  

 

殿



                    千樹陵, ,

                        

Phiên âm:



 Thiên Thụ(5) lăng cảm tác



                          Đặng Văn Sinh

                       

Tàn dương lưu cố tháp

Ngọc điện lãnh vô đăng

Thế Tổ(6) kim hà tại

Do tồn nhất thạch lăng

 

            Thiên Thụ lăng, Mậu Tuất niên, trọng thu



 Dịch nghĩa :



Cảm xúc làm thơ về lăng Gia Long



Nắng chiều còn sót lại trên tháp cổ

Cung điện lạnh lẽo không ánh đèn

ĐứcThế Tổ bây giờ ở đâu?

Chỉ còn lại một tòa lăng đá.



               Lăng Thiên Thụ, tháng chín, năm MậuTuất

            

Dịch thơ:



Cảm xúc làm thơ trước lăngGia Long

                        

 Tháp cổ vương nắng chiều

Cung điện quạnh cô liêu

Thế Tổ đâu còn mãi

Lăng đá lạnh đìu hiu.



                 Nguyễn Đào Trường

   



Bên lăng Gia Long cảm tác

                              

 Nắng chiều vương tháp cổ

Điện ngọc lạnh, không đèn

Thế Tổ giờ đâu nhỉ?

Một lăng đá an nhiên.



                             Duy Phi

                            

     

                               

堂, 御 手留

死, 外

地, 嗣

在, 回 .

                                  , , ,



Phiên âm :



Khiêm lăng tiền hữu cảm



                                      Đặng Văn Sinh



"Khiêm cung k‎ý" (7) tại thạch bi đường

Ngự thủ lưu danh nhất đế vương

Nội loạn, Kinh thành nhân ngạ tử

Ngoại xâm, Lục tỉnh lỗ phong cương

"Khiêm cung" xảo ngữ khi thiên địa

"Tự Đức" (8) tự khoa hoặc tứ phương

Thánh trạch ban dân hà hựu tại?

Hồi đầu chỉ kiến kỷ tai ương.



                       Thuận Hóa, Khiêm lăng tiền, Mậu Tuất niên, trọng thu

                              

  Dịch nghĩa:



Cảm nghĩ trước Khiêm lăng



Bài ký "Khiêm cung" đặt trong nhà bia

Là ngự bút lưu danh bậc đế vương

Nội loạn, tại Kinh thành người chết đói

Vùng Lục tỉnh, giặc ngoại xâm chiếm đóng

"Khiêm cung" là câu nói khéo nhằm dối trời đất

"Tự Đức" là lời khoe để mê hoặc thiên hạ

Ơn vua ban cho dân giờ ở đâu?

Ngoảnh đầu chỉ thấy biết bao nhiêu tai ương.



               Huế, trước Khiêm lăng, trọng thu, năm Mậu Tuất



Dịch thơ:



Cảm nghĩ trước Khiêm lăng



                                          

Khiêm cung bia đá dựng cao vời

Nét chữ vua lưu, "đệ nhất" rồi

Nội loạn, Kinh thành dân đói thét

Ngoại xâm, Lục tỉnh giặc "giùm" coi

Khiêm cung, ngón xạo, gian lừa đất

Tự Đức, tự khoe, dối mị trời

Ân trạch vua ban, giờ đâu nhỉ?

Ngoảnh đầu, chỉ thấy hoạ dân thôi!



                                         Duy Phi

                                

Khiêm cung nào có khiêm gì?

Đế vương ngự bút để bia muôn đời

Kinh thành loạn,đói chết người

Ngoài kia sáu tỉnh làm mồi ngoại xâm

Lừa dân khéo đặt Khiêm cung

Lời khoe mẽ chẳng thể mong yên bình

Ơn Vua ban thật mong manh

Tai ương chiếu chỉ dân lành lầm than.



                                    Nguyễn Đào Trường

  

Tác giả tự dịch:



1/ Đường luật



 Cảm nghĩ trước Khiêm lăng



"Khiêm cung", bia đá tại Khiêm đường

Ngự bút lưu danh bậc đế vương

Nội loạn, Kinh thành người chết đói

Ngoại xâm, Lục tỉnh giặc nhiễu nhương

"Khiêm cung" xảo biện khinh trời đất

"Tự Đức", tự khoe dối bốn phương

Ân trạch vua ban chừng mấy độ?

Ngoảnh đầu chỉ thấy những tai ương.



2/ Lục bát



Cảm nghĩ trước Khiêm lăng



"Khiêm cung ký" tại Khiêm đường

Nổi danh ngự bút đế vương một thời

Kinh thành, chết đói khắp nơi

Nam Kỳ, giặc chiếm kiếp người nổi trôi

"Khiêm cung" khéo dối đất trời

"Tự Đức" ấy lời mê hoặc bốn phương

Ơn vua nào biết tỏ tường

Ngoảnh đầu chỉ thấy tai ương mấy đời.



 Chú thích   



(1) Tên chữ Hán của sông Gianh là Đại Linh giang

(2) Một loài giống chim đa đa (gà gô) trước chiến tranh  thường gặp ở thành cổ Quảng Trị, nay gần như đã  tuyệt chủng.

 (3) Tác giả cùng một số bạn bè đi thuyền nghe hát trên sông Hương

 (4) Một làn điệu dân ca Huế                         

(5) Tên lăng vua Gia Long

(6) Niên hiệu vua Gia Long sau khi lên ngôi hoàng đế           

 (7) Bài ký tỏ ý khiêm tốn, cung kính do vua Tự Đức soạn, được khắc vào bia đá để trong nhà bia tại Khiêm lăng.

 (8) Niên hiệu của Hồng Nhậm sau khi giết anh là Hồng Bảo rồi lên ngôi hoàng đế


















Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét