Thứ Bảy, 31 tháng 8, 2013

Quân đông, tướng nhiều, sao khó bắt tham nhũng?


Quân đông, tướng nhiều, sao khó bắt tham nhũng?

Lê Kiên – Báo Tuổi Trẻ


Lâu lâu đọc được một bài báo “lề chính thống” đi đến gần sự thật như thế này cũng mừng. Thích câu vặn hỏi Thứ trưởng Công an của ông Nguyễn Đình Quyền, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội: “Tội phạm về an ninh quốc gia rất tinh vi, phức tạp, có tổ chức mà các đồng chí vẫn khám phá ngon lành. Vậy tại sao các đồng chí cứ nói tội tham nhũng tinh vi, ẩn nên khó phát hiện? Cứ thử bí mật đặt camera ở các khu vực có cảnh sát giao thông, thử đến các nơi phụ huynh xin học cho con vào trường điểm xem nó có ẩn hay không?” và lời bình của bà Trần Thị Quốc Khánh - ủy viên thường trực Ủy ban Khoa học, công nghệ và môi trường: “Đảng và Nhà nước rất coi trọng công an, chế độ chính sách cho lực lượng này ngày càng ưu đãi. Các đồng chí có nhiều tướng hơn, con em các đồng chí cũng được quan tâm hơn. Nhưng các đồng chí đã hoàn thành trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước chưa? Công tác phòng chống tham nhũng trong nội bộ đã được chú trọng chưa?”
Tuy nhiên vị Ủy viên Ban Tư pháp Đỗ Văn Đương còn đi đến gần sự thật hơn nữa, khi phát biểu rất chí tình: “Tôi cho rằng nguyên nhân lớn nhất là các đồng chí đứng trước tiền và quyền. Thông cảm với các đồng chí, bởi một bản báo cáo kết luận thanh tra, kiểm toán, điều tra phải gửi đủ mọi nơi, xin nhiều ý kiến”.
Tội phạm an ninh quốc gia (chủ yếu là người bất đồng chính kiến, người hăng hái chống Trung Quốc xâm lược) thì làm gì có “tiền và quyền”, nên bắt dễ ợt, nhỉ? Còn tội phạm tham nhũng, liệu có tiền nhiều hơn, quyền to hơn Công an?
BVN
TT - Đó là câu hỏi lớn nhất được đặt ra tại phiên họp đoàn giám sát của Ủy ban Tư pháp ngày 29-8 về “việc chấp hành pháp luật trong xử lý tội phạm về tham nhũng và chức vụ”.

Đọc lại tiểu thuyết "Ổ rơm" của Trần Quốc Tiến


Đọc lại tiểu thuyết "Ổ rơm" của Trần Quốc Tiến

            



            Đặng Văn Sinh



Từ mấy chục năm nay, trong mảng đề tài viết về nông thôn Việt Nam chưa có tác phẩm nào gây tranh cãi nhiều như tiểu thuyết Ổ rơm của Trần Quốc Tiến. Tuy nhiên đấy chỉ là những "tranh cãi" của các bậc thức giả vào lúc trà dư tửu hậu bên lề một vài hội nghị văn chương, còn trên thực tế, về mặt chính thống, tính từ lúc cuốn sách xuất xưởng cuối năm 2002 đến nay, nó hoàn toàn rơi vào sự im lặng, một sự im lặng rất không bình thường(!?). Cũng xin lưu ý để độc giả rõ, Ổ rơm là ấn phẩm của nhà xuất bản Hội Nhà văn và chưa có một văn bản chính thức nào khẳng định cuốn sách bị cấm lưu hành.
Trước hết, xét về mặt tư tưởng nghệ thuật, Ổ rơm không phải là tác phẩm luận đề như hàng loạt tiểu thuyết làng nhàng cùng loại dùng để minh hoạ đường lối chính sách của Đảng cũng như hình tượng người nông dân trong thời kỳ hợp tác hoá nông nghiệp.Trong quá trình dàn dựng bố cục, có vẻ như tác giả không mấy quan tâm  đến sự hoàn chỉnh về mặt tổng thể. Toàn bộ 563 trang tiểu thuyết, phần lớn là những tập hợp của rất nhiều những sự kiện xảy ra trong vòng ba mươi năm ở làng Trọng Nghĩa được khái quát hoá và điển hình hoá theo quy luật của phép hoạt kê mà đặc trưng thẩm mĩ của nó là tiếng cười.

Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

"Thời của thánh thần" dưới góc nhìn phản biện xã hội



    
 "Thời của thánh thần" dưới góc nhìn phản biện xã hội

  Đặng Văn Sinh

Thời của thánh thần”* là bi kịch của một gia đình thông qua tấn đại bi kịch của dân tộc, trong một thời kỳ lịch sử biến động dữ dội. Tất nhiên không thể phủ nhận tính luận đề khá rõ của tác phẩm nhưng nó lại được diễn đạt dưới hình thức sử thi mà điểm nhấn là những sự kiện quan trọng, được tái hiện bằng ngôn ngữ văn chương cổ điển cùng với lớp nhân vật khá điển hình trong suốt mấy chục năm, làm nên diện mạo khác thường của dân tộc Việt với cộng đồng nhân loại.
 "Thời của thánh thần", thực chất là là loại văn chương truy tìm nguồn gốc của những sự bất cập, bởi các sự kiện lịch sử tác động đến số phận dân tộc, cái sự vinh nhục của đất nước cũng như hệ quả của nền chính trị được thực thi hơn sáu mươi năm qua, không cần đào bới quá khứ cũng có thể cảm nhận khá chính xác. Vấn đề là nguyên nhân sâu xa của nó. Không hiếm trường hợp, lịch sử lưu giữ trong chuỗi ký ức của các thế hệ có khi lại chính xác hơn nhiều thứ đã được định dạng trên các văn bản chính thức của nhà cầm quyền. Bằng vào hệ thống nhân vật hư cấu, được tích hợp từ rất nhiều con người có thật, từng bị vùi dập, tù đầy, khủng bố tư tưởng, bị vô hiệu hóa hoặc loại ra khỏi cộng đồng biến thành cái bóng dặt dẹo của chính mình, tác giả đã tái hiện thành công số phận bi đát của người trí thức Việt Nam từng bị coi là "tiểu tư sản", "lập trường bấp bênh", thậm chí "phản cách mạng" trong nửa cuối thế kỷ XX. Đọc "Thời của thánh thần", ngay cả lớp người trẻ tuổi còn đang ngồi trên ghế nhà trường, không phải trải nghiệm nỗi kinh hoàng của những cuộc chiến máu lửa, những trận đấu tố đầy chất bi hài, những chiến dịch cưỡng bức tẩy não sắt máu, cũng phải rùng mình bởi sự bất ổn của của một xã hội tôn thờ bạo lực vốn được xây dựng trên thứ triết lý không tưởng, vừa cuồng tín vừa ấu trĩ, vừa tàn bạo vừa giả trá. Hậu quả của nó là, chính chúng ta chứ không phải ai khác, đã và đang phải lãnh đủ một cơ đồ rách nát, một môi trường xã hội ô nhiễm nặng nề, khiến các thế hệ tương lai mất niềm tin, thiếu lý tưởng, vô văn hóa, suy thoái đạo đức nhưng lại thừa kiêu ngạo trên cái nền phì nhiêu của nạn tham nhũng.

Không thể tuyên truyền cho Điện Hạt nhân bằng cách “mà mắt” đồng bào dân tộc như thế này!


Không thể tuyên truyền cho Điện Hạt nhân bằng cách “mà mắt” đồng bào dân tộc như thế này!

Thục Quyên (SAVEVIETNAM’S NATURE)

Đọc bài bài "Nâng cao nhận thức của người dân về phát triển điện hạt nhân" của diễn đàn Nangluongvietnam đăng ngày 24/08/2013
http://nangluongvietnam.vn/news/vn/dien-hat-nhan-nang-luong-tai-tao/nang-cao-nhan-thuc-cua-nguoi-dan-ve-phat-trien-dien-hat-nhan.html và được các báo VN phổ biến hoặc đưa tin, tôi thấy mình có bổn phận lên tiếng phản đối lập tức việc làm hết sức sai trái, phản khoa học, của những người tuyên truyền cho sự an toàn của Dự án Điện Ninh Thuận như thế này: “Để những người có uy tín trong đồng bào dân tộc hiểu rõ hơn về điện hạt nhân, trong 2 ngày 23 - 24/8, Ban Dân tộc tỉnh Ninh Thuận đã tổ chức cho 130 đại biểu - những người có uy tín của cộng đồng 35 dân tộc anh em trong 125 thôn của tỉnh Ninh Thuận đến thăm lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt.”
Những người tổ chức sự kiện trên thực sự vô ý thức, trình độ hiểu biết quá kém hay cố tình “mà mắt” đồng bào dân tộc khiđem Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân Đà Lạt với công suất nhiệt 500 KW hay 0,5 MW để làm bằng chứng cuội cho sự an toàn của 2 lò hạt nhân 4000MW mà tập đoàn Rosatom sẽ xây dựng tại Ninh Thuận?

Đảng ta hơn ở chỗ vẫn còn nhiều người tốt?


Đảng ta hơn ở chỗ vẫn còn nhiều người tốt?

Blogger Gò Cỏ May


Dạo này nhận job (việc) mới, bận tối ngày. Nên cũng có phần sao nhãng việc đàn sáo (gõ phím). Nhưng hôm nay, tình cờ vào Quê Choa đọc được Chuyện mấy cái phong bì  của Phan Chi khiến mình lại tủm tỉm cười và có hứng loạn bàn chút cho đỡ “nhạt miệng” (chữ của NQL). Chứ cái thá vô công dồi nghề như mình, hơi đâu mà mua dây buộc cho nhọc lòng…
1- Thời còn ở làng, hàng năm cứ đến lễ Hội chùa Thày (7/3 âm lịch) là mình hay cơm nắm muối vừng theo các anh chị đi trẩy hội. Nhớ dạo đó tinh đi bộ chứ làm gì đã có đủ xe đạp mỗi người một chiếc mà đi. Từ nhà đến núi Thày, đi tắt qua bãi Giá cũng phải tới mươi cây số. Nhưng cứ nghĩ tới cảnh được trèo lên các tảng đá tai mèo chênh vênh mà ngắm xuống khung cảnh chùa chiền, làng mạc và cánh đồng bên dưới là lòng mọi người lại háo hức một cách lạ kỳ. Không biết nhà thơ nổi tiếng xứ Đoài - Quang Dũng (quê Đan Phượng) thời ở làng có giống tâm trạng của tôi không? Nhưng khi đọc tới cái câu “Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn/ Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng” trong tuyệt phẩm nổi tiếng Đôi mắt người Sơn Tây thì tôi tin cái đẹp hoang sơ của tuổi ấu thơ ở một vùng đầy ca dao cổ tích như xứ Đoài, người nào kinh qua chả cảm nhận được.
Cho đến một năm, khi tôi đã đi thoát ly được vài năm rồi. Hôm rủ bạn bè từ thành phố đạp xe ngót ba chục cây số về thăm lại núi Thày ngay sau hội chùa hàng năm. Chúng tôi lại leo ra các mỏm đá chơi vơi thi nhau chụp ảnh kỷ niệm. Đói lại trải báo lên các mỏm đá tai mèo, nơi có các tán cây hoa đại (cây bông xứ) để dùng bữa trưa một cách ngon lành. Vừa ăn vừa ngắm lúa vàng đang sắp vào vụ thu hoạch bên dưới. Khi vừa ăn xong, lúc thu dọn chiến trường thì phát hiện ra bên dưới các tảng đá thơ mộng đó là vô số các bãi phân khô (chắc do các du khách đi trẩy hội gửi lại) ở trong các khe đá được phủ những túm lá khô tai tái ngụy trang bên trên nên chả ai phát hiện được. Vậy mà bữa ăn vẫn ngon lành như thường. Thế mới biết cái câu “khuất mắt trông coi” là thế!

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

Chính trị hóa khoa học & văn học để “đánh” luận án thạc sĩ của Nhã Thuyên là việc làm không chính danh, không đàng hoàn, không tử tế, trái với chủ nghĩa Marx



Chính trị hóa khoa học & văn học để “đánh” luận án thạc sĩ của Nhã Thuyên là việc làm không chính danh, không đàng hoàn, không tử tế, trái với chủ nghĩa Marx

Trần Mạnh Hảo
Thạc sĩ Đỗ Thị Thoan

Thạc sĩ văn học Đỗ Thị Thoan ( bút danh Nhã Thuyên), sinh năm 1986, từng là giảng viên khoa văn trường đại học sư phạm Hà Nội ( mới bị đuổi việc) đang cực kỳ nổi tiềng với luận văn thạc sĩ :Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa do PGS.TS Nguyễn Thị Bình, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hướng dẫn” đã được hội đồng các giáo sư phản biện cho điểm tuyệt đối 10/10 vào tháng 11-2010; sau ba năm, nay nhờ nhà phê bình văn học Chu Giang ( Nguyễn Văn Lưu) và GS. Phong Lê và ngót một trăm bài “đánh” khác trên các báo “ lề phải” …mà Nhã Thuyên đường đường chính chính bước vào lịch sử văn học, một mình làm thành hiện tượng kỳ vĩ ngang ngửa với vụ án “ Nhân Văn giai phẩm” ngày xưa.
Trong “ Hội nghị lý luận phê bình lần thứ 3 của Hội nhà văn VN “ ngày 05/6/2013, nhà phê bình văn học Chu Giang & GS. Phong Lê đã lên diễn đàn tố cáo luận văn thạc sĩ trên của Nhã Thuyên là phản động chống đảng, muốn lật đổ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản, rằng khoa văn trường đại học sư phạm Hà Nội là một ổ phản động; tiếp đến báo “Văn Nghệ TP HCM” ngày 13/6/2013 in bài đầu tiên của ông Chu Giang ( Nguyễn Văn Lưu) bắn phát đại bác mở màn cho đại chiến dịch tấn công của chế độ đương thời vào thành lũy của đế quốc Nhã Thuyên có tên : Vấn đề ở khoa văn đại học sư phạm Hà Nội – Một luận văn kích động sự phản kháng và chống đối ( hai số sau của báo này, ông Chu Giang lại in tiếp hai bài đánh vu hồi khác vào bản luận văn trên : Văn sư tử và văn cầy cáo, không thầy đố mày làm nên) đã mở đầu một chiến dịch Điện Biên Phủ trên giấy và trên Internet đánh vào  tên đế quốc Mỹ bé xíu Nhã Thuyên của các báo chính thống hùng mạnh nhất nước : Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Công an nhân dân, tạp chí Cộng Sản, Hà Nội mới, Sài Gòn giải phóng, Công an TP. HCM, Công an thủ đô, báo Thanh Tra, Văn Nghệ, Văn Nghệ quân đội, Văn Nghệ Trẻ, Hồn Việt, Đài tiếng nói Việt Nam, báo mạng Vietnamnet, VNexpress, mạng Dân Trí, cùng hàng trăm mạng chính thống khác, thì hiện tượng Nhã Thuyên không còn nằm trên bình diện quốc gia mà đã loang ra thành bình diện quốc tế.

Cờ đỏ và nhân cách thời nay


Cờ đỏ và nhân cách thời nay

Đỗ Trường
(CHLB Đức)


Sống ở nước ngoài đã lâu, tôi ít có điều kiện về thăm quê, nên một số từ ngữ tiếng Việt không hay dùng, đôi lúc cũng quên quên, nhớ nhớ. Ấy vậy mà nhìn thấy màu đỏ, hay nghe ai đó nhắc đến từ đỏ, cờ đỏ, đội cờ đỏ là tôi giật mình thon thót. Có lẽ, ai có những giây phút ám ảnh này, mới hiểu, thông cảm cho Phù Thăng và thấy được cái hay, đồng cảm với truyện ngắn Hạt Thóc của ông.
Thế hệ chúng tôi, sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, chắc chắn không ai có thể quên nhiệm vụ đội cờ đỏ, được làm quen ngay từ ngày đầu đến lớp(vỡ lòng). Đội cờ đỏ của lớp, của trường do tuyển chọn, hoặc phân công từng tổ thay nhau làm trong tuần. Đội này, được phát băng đỏ đeo trên tay. Nhiệm vụ chính giám sát hành vi của các bạn cùng lớp, cùng trường, báo cáo lại thày cô giáo chủ nhiệm, hoặc ban giám hiệu chấm điểm thi đua. Nó là cơ sở để thày cô, ghi hạnh kiểm vào học bạ cuối năm.

Nhân vụ luận văn của Nhã Thuyên, thử bàn một chút về sự tương tác giữa chính trị và khoa học



Nhân vụ luận văn của Nhã Thuyên, thử bàn một chút về sự tương tác giữa chính trị và khoa học

Nguyễn Thế Duyên


Điều trước tiên phải nói ngay là tôi  không thích  mà thậm chí còn rất dị ứng với thơ của nhóm mở miệng. Với tôi đấy không phải là thơ và nó không đáng để cho ta phải phí thời gian và công sức để đọc nó.
Nhưng!
Cho dù là  không thích, tôi vẫn cứ phải thừa nhận rằng : “Nhóm mở miệng đã tồn tại, đang tồn tại và sẽ còn tồn tại cho đến khi nào những nguyên nhân tạo ra nó mất đi, bất chấp sự phản ứng gay gắt của một bộ phận khá đông đảo người đọc. Thậm chí bất chấp cả sự truy bức của chính quyền” Và còn một điều này nữa : Số người theo phong cách của nhóm mở miệng đang gia tăng từng ngày.
Tại sao vậy?  Câu hỏi này dành cho những nhà khoa học về xã hội và nhân văn và có một người có lẽ đã trả lời được một phần của câu hỏi này . Đó chính là Nhã Thuyên. Tại sao tôi lại nói là có lẽ ? Vì rằng mặc dù tôi đã rất cố gắng nhưng tôi vẫn không sao có được bản luận văn về nhóm “Mở miệng” khi tra nó trên google. Tôi chỉ biết nội dung của nó  qua nhưng bài viết phê phán cũng như bảo vệ luận văn này.
Cũng cần phải nói ngay rằng : “ Bản luận văn này không phải là một tác phẩm văn học. Nó là một công trình nghiên cứu khoa học”.

Thứ Bảy, 24 tháng 8, 2013

Vì sao Hiến pháp mới (TQ) loại bỏ sự lãnh đạo của đảng?


Vì sao Hiến pháp mới (TQ) loại bỏ sự lãnh đạo của đảng?

Tác giả: Thảo căn Văn trích

Tạp chí Viêm hoàng xuân thu số 8 năm 2011, từ trang 6 đến trang 9, đăng tải bài viết của Cao Khải tiên sinh, nguyên Chủ nhiệm Phòng nghiên cứu Pháp chế Ủy ban Pháp luật thuộc Ủy ban thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) về những nội dung cơ bản của Hiến pháp sửa đổi năm 1982 (Từ nay gọi là Cao Văn). Bài viết khiến cho chúng ta hiểu rõ, Hiến pháp mới vì sao không ghi Nước CHNDTH do đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) lãnh đạo. Việc làm đẩu tiên của vị cựu Chủ nhiệm này là phân tích mối quan hệ giữa đảng và nhà nước, vốn trước đây chưa bao giờ được phân biệt rành mạch. Vì vậy, Hiến pháp trước năm 1982 gọi là Hiến pháp cũ, còn Hiến pháp đã sửa đổi vào năm 1982 gọi là Hiến pháp mới.
Tuy nhiên, sự khác biệt chủ yếu giữa hai bản hiến pháp, cho đến nay, không ít người vẫn còn hiểu rất mơ hồ. Trái lại, vẫn còn một số đối tượng, trước đây từng giành được quyền lực trong hệ thống chính trị độc tài, bằng mọi thủ đoạn tinh vi, ngoài miệng thì nói tán thành, nhưng trong lòng lại ngấm ngầm phản đối, cho dù nó đã có hiệu lực thi hành. Họ cố tình bám vào thứ hiến pháp đã bị phế bỏ, chọn ra những câu chữ sai lầm, rồi cho rằng đó mới là pháp luật chính danh, đồng thời ra sức tuyên truyền Hiến pháp mới nhượng bộ những “hồn ma phái cực tả” để cho chúng tiếp tục hoạt động.

Trước nhu cầu lớn này, tôi chỉ biết học hỏi ý chí của loài Kiến.


Trước nhu cầu lớn này, tôi chỉ biết học hỏi ý chí của loài Kiến.

Phóng viên Kiều Oanh (VTC10) phỏng vấn Nhà văn Thế DũngGiám đốc NXB VIPEN (www.vipen.de) tại CHB Đức (dành cho Chuyên mục Người Việt ở năm châu)

Lý do tại sao ông thành lập nhà xuất bản VIPEN?
Trước hết là vì tôi hy vọng qua những cuốn sách người Đức và người Việt sẽ dần dà thấu hiểu nhau một cách sâu sa hơn. Và cũng bởi vì đã và đang xuất hiện nhiều cây bút viết văn làm thơ trong cộng đồng người Việt ở Đức và Châu Âu. Ngẫm lại, sự xuất hiện của VIPEN giống như một tiên cảm, một nhu cầu  giao lưu văn hóa  của người Việt ở Đức, trước tiên là nhu cầu là nguyện vọng của cá nhân tôi, sau đó là của bạn tôi- Tiến sĩ Peter Knost.
Ông đã truyền bá, giới thiệu văn học Việt Nam cho các thế hệ thứ 2, thứ 3 ở  Đức như thế nào?
Trong việc này, VIPEN - một nhà xuất bản tư nhân bé nhỏ chỉ mới làm được vô cùng ít ỏi nếu như không nói là hầu như chưa làm được gì đáng kể.
Hiên tại, ông đang có dự án dịch những cuốn sách tiếng Việt sang tiếng Đức để giới thiệu văn chương Việt Nam với bạn bè Đức. Ông có thể giới thiệu qua về dự án này của ông?
- Đây là dự án nhiều tham vọng và khó thực hiện nhất. Vì chúng tôi thiếu một lực lượng cộng tác viên là những dịch giả văn chương chuyên nghiệp dịch trực tiếp từ tiếng Việt sang tiếng Đức. Tôi đã có dịp trình bày về nan đề này trong một tham luận tại Hội nghị Giới thiệu Văn học Việt Nam ra nước ngoài ở Hà Nội vào hồi tháng 01 năm 2010. Hy vọng  các dịch giả người Đức gốc Việt thuộc thế hệ thứ 2, thứ 3 sẽ làm nên nhiều chuyện trong dự án này.